Hà Nội phấn đấu 50% DN phân phối áp dụng sản xuất sạch hơn đến năm 2020

Ngày 31/10/2018, UBND TP Hà Nội ban hành Kế hoạch số 206/KH-UBND về hành động thực hiện Chương trình sản xuất và tiêu dùng bền vững thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020.

Kế hoạch hướng tới mục tiêu thúc đẩy hành động sản xuất và tiêu dùng bền vững nhằm đảm bảo phát triển nhanh, hiệu quả; đồng thời thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững theo hướng tiếp cận vòng đời sản phẩm, đẩy mạnh liên kết trong các khâu của vòng đời sản phẩm.

Theo Kế hoạch, thành phố phấn đấu tỷ lệ đóng góp của các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp môi trường, tái chế chất thải trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt từ 42% đến 45%; Khoảng 50% các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối có nhận thức, được hướng dẫn, áp dụng các giải pháp về sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng.

Ảnh minh họa

Đồng thời, giảm tỷ lệ sử dụng bao bì khó phân hủy tại các chợ dân sinh và các siêu thị, trung tâm thương mại đạt từ 50% đến 65%; Tỷ lệ các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp áp dụng đổi mới công nghệ theo hướng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường đạt từ 60% đến 70%.

Góp phần đạt chỉ tiêu quốc gia, phấn đấu tỷ lệ chất thải được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ đối với chất thải được thu gom đối với: Chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 85%, chất thải rắn công nghiệp đạt 75%, chất thải rắn xây dựng đạt 50%.

Phấn đấu 100% các doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn trên địa bàn Thành phố ứng dụng hệ thống thông tin điện tử sử dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin đến người tiêu dùng.

Kế hoạch cũng nêu lên các nội dung thực hiện như tuyên truyền nâng cao nhận thức về sản xuất, tiêu dùng bền vững các sản phẩm thay thế nhựa và túi nilon trên địa bàn Thành phố Hà Nội; Tập huấn chuyên đề nâng cao nhận thức, năng lực của doanh nghiệp về hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững; Phổ biến triển khai mô hình kinh doanh xanh, kết nối lĩnh vực phân phối – dịch vụ bền vững.

Đánh giá tiềm năng thị trường và khả năng cung ứng, phân phối các sản phẩm thân thiện với môi trường của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Thành phố; Đánh giá cơ hội cạnh tranh, tham gia vào mạng lưới sản xuất và tiêu dùng bền vững toàn cầu đối với ngành công nghiệp hỗ trợ có sản phẩm tham gia xuất khẩu trên địa bàn Thành phố.

Sở Công Thương chủ trì, phối hợp các Sở, ngành; UBND các quận, huyện thị xã và các đơn vị, tổ chức liên quan xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình sản xuất và tiêu dùng bền vững thành phố Hà Nội giai đoạn đến 2020; Hàng năm, xây dựng Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện; Dự toán kinh phí thực hiện theo quy định.

Các sở, ban, ngành Thành phố; UBND các quận, huyện, thị xã có trách nhiệm huy động các nguồn vốn kết hợp với ngân sách hỗ trợ để đảm bảo thực hiện Kế hoạch…

Theo Scp.org.vn (3/11/2018)

Sợi các bon có thể trữ năng lượng bên trong thân xe hơi

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, các sợi các bon có thể hoạt động như các điện cực pin, lưu trữ năng lượng một cách trực tiếp bên trong chúng.

Phát hiện này mở ra những cơ hội chế tạo nên các loại pin với cấu trúc mới, trong đó, sợi các bon sẽ trở thành một phần quan trọng trong hệ thống năng lượng. Loại vật liệu đa chức năng này có thể đóng góp đáng kể vào việc giảm khối lượng của máy bay và các phương tiện giao thông trong tương lai – một thách thức lớn đối với quá trình điện hóa các phương tiện đi lại này.

Máy bay chở khách cần phải nhẹ hơn rất nhiều so với hiện nay để có thể chuyển từ sử dụng xăng, dầu sang pin điện. Đối với các loại xe hơi, giảm được khối lượng đồng nghĩa với quãng đường di chuyển sau mỗi lần sạc sẽ được kéo dài hơn nữa.

Leif Asp, Giáo sư vật liệu và Cơ khí Máy tính tại Đại học Công nghệ Chalmers, đã tiến hành nghiên cứu khả năng của sợi các bon để xem liệu nó có thể thực hiện nhiều tác vụ khác thay vì chỉ đơn giản đóng vai trò là một loại vật liệu gia cố hay không. Và thật ngạc nhiên, sợi các bon có thể lưu trữ năng lượng!


Mật độ năng lượng thấp hơn của pin cấu trúc sẽ làm chúng an toàn hơn pin tiêu chuẩn.

Giáo sư Leif Asp đã tập hợp một nhóm các nhà nghiên cứu đa ngành – những người vừa xuất bản một nghiên cứu về phương thức các vi cấu trúc sợi các bon ảnh hưởng đến thuộc tính điện hóa của chúng, tức khả năng hoạt động như các điện cực trong pin lithium-ion của sợi các bon. Cho đến thời điểm này, đây vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu chưa được khai phá.

Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về nhiều loại vi cấu trúc khác nhau của các loại sợi các bon thương mại trên thị trường. Họ khám phá ra rằng, sợi các bon với các tinh thể nhỏ kém định hướng có thuộc tính điện hóa tốt nhưng độ cứng thấp hơn thông thường. Ngược lại, sợi các bon có các tinh thể lớn, định hướng cao, sẽ có các thuộc tính điện hóa quá thấp để có thể sử dụng trong các viên pin có cấu trúc mới.

“Chúng tôi đã biết sợi các bon đa chức năng nên được sản xuất ra sao để đạt được khả năng lưu trữ năng lượng cao, trong khi vẫn đảm bảo độ cứng chấp nhận được” – Asp nói – “Độ cứng có giảm đi một chút cũng không phải là vấn đề với nhiều ứng dụng của sợi các bon như xe hơi chẳng hạn. Thị trường hiện bị thống trị bởi các vật liệu tổng hợp sợi các bon đắt tiền vốn có độ cứng dành cho máy bay. Do đó, các hãng sản xuất sợi các bon có tiềm năng mở rộng tính ứng dụng của nó”.

Trong nghiên cứu này, các loại sợi các bon với thuộc tính điện hóa tốt có độ cứng cao hơn một chút so với thép, trong khi cac loại sợi các bon với thuộc tính điện hóa kém lại cứng gấp đôi thép.

Các nhà nghiên cứu đang cộng tác với cả ngành công nghiệp xe hơi và hàng không. Leif Asp giải thích rằng đối với ngành công nghiệp hàng không, việc tăng độ dày của vật liệu tổng hợp sợi các bon là cần thiết để bù đắp cho việc giảm độ cứng của nó nhằm làm pin cấu trúc mới. Đồng thời, điều này còn giúp tăng khả năng lưu trữ năng lượng của chúng nữa.

“Mấu chốt là tối ưu các phương tiện ở cấp độ hệ thống – dựa trên các thuộc tính khối lượng, độ chắc, độ cứng và điện hóa. Đó là cách suy nghĩ mới đối với ngành công nghiệp xe hơi, vốn đã quen với việc tối ưu các thành phần riêng biệt. Pin cấu trúc có lẽ sẽ không hiệu quả như pin thông thường, nhưng bởi chúng có khả năng chuyên chở, chúng có thể mang lại những thay đổi lớn ở cấp độ hệ thống. Bên cạnh đó, mật độ năng lượng thấp hơn của pin cấu trúc sẽ làm chúng an toàn hơn pin tiêu chuẩn, đặc biệt là chúng không có chứa bất kỳ vật chất dễ bay hơi nào” – Asp cho biết.

Theo khoahoc.tv

SHARE

Facebook
Twit

Sáng kiến “hút” nước sạch từ không khí giành giải thưởng 1,5 triệu USD

Sáng chế “hút” nước sạch từ không khí vừa giành được giải thưởng 1,5 triệu đô nhờ phương pháp tạo ra mây nhân tạo trong một chiếc container và cung cấp đủ nước uống cho 100 người mỗi ngày.

Hệ thống mới này có tên gọi là WEDEW, Wood-to-Energy Deployed Water, tạm dịch là nước được tạo ra nhờ năng lượng từ gỗ.

Hệ thống có một thiết bị gọi là Skywater – một hộp lớn có khả năng bắt chước điều kiện tạo ra mây. Thiết bị này sẽ hút không khí nóng và cho không khí nóng tiếp xúc với khối không khí lạnh, sau đó ngưng tụ những giọt nước tinh khiết có thể uống được. Nước được lưu trữ ở bể chứa bên trong container và có vòi đưa ra ngoài để mọi người uống.

Hệ thống WEDEW

WEDEW có thể lập tức mang nước uống sạch đến bất kỳ đâu – tầng thượng của một tòa chung cư ở Nairobi, một vùng chịu thảm họa sau cơn bão ở Manila hay một ngôi làng ở Zimbabwe – bằng cách hút nước từ không khí. Hệ thống này sử dụng năng lượng mặt trời, pin hoặc năng lượng sinh khối – loại năng lượng giúp tiết kiệm chi phí và giảm bớt lượng CO2 được tạo ra.

Thiết kế này của Công ty Skysource/Skywater Alliance đã chiến thắng tại Cuộc thi Water Abundance XPrize để tìm ra giải pháp cung cấp ít nhất 2.000 lít nước mỗi ngày từ không khí, sử dụng năng lượng sạch và chi phí không vượt quá 2 cents (gần 500 VND) cho mỗi lít nước.

Theo cô Zenia Tata, người khởi động Cuộc thi XPrize, gần 800 triệu người trên Trái đất phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước; nguồn nước ngọt là có hạn, trong khi các giải pháp tạo ra nước sạch khác như khử muối lại rất tốn kém. Nhưng nhóm nghiên cứu đã nhận ra rằng, không khí có thể được khai thác như một nguồn tài nguyên.

Hiện nay, WEDEW đã được đưa vào sử dụng ở 1 số khu vực. Nhóm thiết kế sẽ sử dụng số tiền thưởng có được để phát triển hệ thống và lắp đặt trên toàn thế giới với sự giúp đỡ của các tổ chức phi lợi nhuận.

Theo doimoisangtao/tapchimoitruong.vn

Việt Nam – Đan Mạch hợp tác phát triển carbon thấp trong ngành năng lượng

Từ ngày 19/10/2018 đến ngày 20/10/2018, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Vương quốc Đan Mạch theo lời mời của Thủ tướng Vương quốc Đan Mạch Lars Løkke Rasmussen và tham dự Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác vì Tăng trưởng Xanh và các Mục tiêu Toàn cầu 2030 (P4G) tại Copenhagen.

Sau 5 năm triển khai quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Đan Mạch, kim ngạch thương mại hai chiều liên tục tăng, đạt trên 664 triệu USD, hiện có có trên 130 doanh nghiệp Đan Mạch đang hoạt động tại Việt Nam.

Sau lễ đón chính thức vào chiều ngày 20/10/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Lars Løkke Rasmussen cùng đoàn đại biểu hai nước đã có buổi hội đàm trao đổi về những vẫn đề Việt Nam và Đan Mạch quan tâm trong lĩnh vực môi trường, tăng trưởng xanh, năng lượng… cũng như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA).

Sau buổi hội đàm, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Lars Løkke Rasmussen, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh và Bộ trưởng Bộ Năng lượng, Hạ tầng kỹ thuật và Khí hậu Lars Christian Lileholt đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực phát triển carbon thấp trong ngành năng lượng.

Bản ghi nhớ lần này sẽ thúc đẩy hợp tác dài hạn trong lĩnh vực phát triển carbon thấp trong ngành năng lượng, phát triển chính sách hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang một hệ thống năng lượng bền vững hiệu quả về chi phí, xây dựng khung pháp lý nhằm hỗ trợ các hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và sự phát triển của năng lượng tái tạo bao gồm: cơ chế đấu thầu phát triển dự án năng lượng tái tạo, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực nguồn điện và tiết kiệm năng lượng.

Các hình thức hợp tác sẽ được thực hiện thông qua việc chia sẻ kiến thức, chuyên môn và các bài học kinh nghiệm của Đan Mạch trong bốn thập kỷ thực hiện chuyển hóa carbon thấp; chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng các quy định chính sách về quy hoạch, triển khai và chuyển giao công nghệ trong ngành năng lượng. Ngoài ra, Vương quốc Đan Mạch cũng sẽ hỗ trợ các dự án về năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, phát triển lưới điện và các dự án khả thi khác liên quan đến ngành năng lượng thông qua Chương trình Tài chính Doanh nghiệp của Danida, các quỹ Đầu tư Đan Mạch cho các quốc gia đang phát triển và/hoặc Quỹ Tín dụng xuất khẩu Đan Mạch.

Cùng ngày, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã tháp tùng Thủ tướng Chính phủ tham dự Tọa đàm Doanh nghiệp Việt Nam – Đan Mạch với sự tham gia của các doanh nghiệp hàng đầu Đan Mạch. Tại Tọa đàm, Bộ trưởng đã giải đáp nhiều câu hỏi doanh nghiệp quan tâm, đặc biệt đối với lĩnh vực năng lượng, trong đó có chủ trương phát triển năng lượng sạch và đảm bảo phát triển xanh của Việt Nam, về quy hoạch điện gió toàn quốc và các cơ chế ưu đãi cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực này.

Theo tietkiemnangluong.com.vn

IEA cảnh báo khí thải CO2 tiếp tục tăng

Lượng khí CO2 thải ra từ hoạt động khai thác năng lượng của con người sẽ tiếp tục tăng trong năm 2018, sau khi lên mức kỷ lục vào năm 2017. Thông tin này được cho là sẽ phủ bóng đen lên triển vọng đạt mục tiêu đề ra trong Hiệp định Pari về biến đổi khí hậu.

Phát biểu với các quan khách tại một hội nghị ngoại giao do Đại sứ quán Ba Lan ở Pari (Pháp) tổ chức ngày 17/10, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) Fatih Birol cho biết, khí thải CO2 trong năm 2018 sẽ tiếp tục tăng. Sau 3 năm duy trì ở một mức, lượng khí thải CO2 toàn cầu trong năm 2017 đã tăng 1,4%, phá tan các hy vọng rằng đây đã là mức đỉnh. Lĩnh vực năng lượng “đóng góp” 80% lượng khí thải CO2 toàn cầu.


Người dân đeo khẩu trang để tránh ô nhiễm không khí tại quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh, Trung Quốc (Nguồn: CNN)

Hiệp định Pari về biến đổi khí hậu được thông qua tại Hội nghị Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 21 (COP 21), vào tháng 12/2015, có hiệu lực từ tháng 11/2016, đặt mục tiêu giới hạn mức tăng trung bình nhiệt độ Trái Đất từ nay đến năm 2100 ở phạm vi từ 1,5 – 20C. Theo ông Birol, “cơ hội đạt các mục tiêu tham vọng này đang ngày càng ít đi.”

Theo kế hoạch, COP 24 sẽ diễn ra ở TP. Katowice của Ba Lan vào tháng 12/2018. Mục đích là thống nhất “hướng dẫn hoạt động” về thực thi Hiệp định Pari.

Để kiềm nhiệt độ tăng ở mức 1,50C, lượng khí thải CO2 do con người gây ra trên toàn cầu sẽ cần phải giảm khoảng 45% vào năm 2030 từ mức của năm 2010 và đạt mức “0” vào giữa thế kỷ. Trong khi đó, năng lượng tái tạo sẽ cần chiếm tới 70 – 85% sản lượng điện vào năm 2050 so với 25% hiện nay. Phần điện sản xuất từ khí đốt sẽ cần phải cắt giảm xuống 8% và điện từ than đá xuống từ 0 – 2%.

Theo vietnamplus.vn

Nhựa phân hủy sinh học có thân thiện như bạn nghĩ?

Cụm từ “có thể phân hủy sinh học” không cho ta biết bất cứ thông tin gì về quá trình tự phân hủy của sản phẩm. Nó sẽ phân hủy thành gì? Độc hại hay không? Quá trình phân hủy thực chất kéo dài bao lâu? Nếu không xem xét trong hoàn cảnh cụ thể thì cụm từ này rất dễ gây nhầm lẫn và định hướng sai.

Các nhà sản xuất tất nhiên muốn in dòng chữ này trên sản phẩm để người tiêu dùng tin vào sự thân thiện của chúng đối với môi trường và từ đó đưa ra quyết định lựa chọn. Các công ty cũng có thể đưa ra bằng chứng thuyết phục về khả năng phân hủy của sản phẩm, tuy nhiên, không phải công ty nào cũng làm được điều này. Và đối với người tiêu dùng thì thật khó mà phân biệt đâu là những giải thích xác đáng.

Phân hủy sinh học là một quá trình hóa học, trong đó vật chất được vi sinh vật chuyển hóa thành nước, carbon dioxide, và sinh khối. Tùy thuộc vào từng vật liệu khác nhau mà dư lượng độc hại có thể vẫn tồn tại sau quá trình này.

Quá trình phân hủy sinh học bị tác động bởi nhiều yếu tố bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ oxy, sự hiện diện của các loại vi khuẩn và thời gian. Tuy nhiên, vì không có định nghĩa cụ thể khả năng phân hủy sinh học là gì nên nhiều chương trình cấp chứng chỉ đã được phát triển dựa trên các tiêu chuẩn khoa học và thí nghiệm.

Hiện có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau dành cho nhựa phân hủy sinh học, song chưa có tiêu chuẩn nào rõ ràng với tiêu chí đạt hay không đạt về khả năng phân hủy nhựa trong nước biển. Riêng với nhóm sản phẩm có thể phân hủy sinh học bằng cách ủ phân tại nhà, hiện có một số tiêu chuẩn để xem xét như: Tiêu chuẩn AS 5810 của Australia; các chương trình chứng nhận do Cơ quan cấp chứng chỉ Vinvotte của Bỉ phát triển gồm OK Compost Home, DIN – OK Compost Home, DIN-Geprüft Home Compostable Mark và Australasian Bioplastics Association (ABA) Home Compostable. Các chứng chỉ này đòi hỏi ít nhất 90% sản phẩm bị phân hủy trong vòng 12 tháng ở nhiệt độ thường.

Đối với các sản phẩm phân hủy trong môi trường công nghiệp hoặc qua phân hủy yếm khí, có thể kể tới một số tiêu chuẩn như: các tiêu chuẩn châu Âu EN/13432/14995, trong đó 13432 chỉ áp dụng cho bao bì, 14995 áp dụng cho nhựa nói chung; Tiêu chuẩn ASTM D6400 của Hoa Kỳ; Nhật Bản không có tiêu chuẩn nào được chấp nhận và thường áp dụng theo chương tình GreenPla (yêu cầu mức tối thiểu các chất hữu cơ trong sản phẩm chuyển hóa thành CO2 là 60%). Các logo chứng minh khả năng phân hủy trong các cơ sở công nghiệp bao gồm: ABA Compostable Seedling, Vinçotte OK Compost, the DIN-Geprüft Industrial Compostable Mark, và Biodegradable Products Institute (BPI) Compostable.

Đáng chú ý là các sản phẩm được chứng nhận phân hủy sinh học không có nghĩa chúng có thể phân hủy 100% và không chứa kim loại nặng hoặc các chất độc hại. Mỗi tiêu chuẩn chứng nhận cho phép mức độ kim loại nặng như: đồng, nickel, cadium, trì, thủy ngân hay crôm, asen khác nhau, trong đó tiêu chuẩn ASTM D6400 của Hoa Kỳ có mức độ cho phép cao nhất.

Dưới góc độ luật pháp, hiện chưa có một quy định bắt buộc nào về khả năng phân hủy sinh học của sản phẩm, tuy nhiên, vẫn có các hướng dẫn sử dụng cụm từ “có thể phân hủy sinh học” (và một số logo môi trường khác) để tránh trường hợp chúng bị định hướng sai.

Ở Australia, Đạo luật Thương mại năm 1974 yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp cho khách hàng thông tin chính xác về hàng hóa và dịch vụ. Các doanh nghiệp sẽ phải đưa ra bằng chứng xác đáng cho những khẳng định về khả năng phân hủy của sản phẩm. Các khẳng định này phải đảm bảo trung thực; thông tin chi tiết về thành phần hoặc quy trình liên quan; sử dụng ngôn ngữ toàn dân; giải thích tầm quan trọng hoặc lợi ích nhưng không được nói quá; và có khả năng chứng minh.

Ở Australia, Ủy bạn Cạnh tranh và Người tiêu dùng (Australian Competition and Consumer Commission – ACCC) từng chỉ điểm một số công ty đưa ra các khẳng định dễ gây nhầm lẫn về khả năng phân hủy sinh học, bao gồm chuỗi siêu thị Woolworths.

Để nhận diện các sản phẩm phân hủy sinh học, trước tiên, cần tìm hiểu các sản phẩm có dán nhãn “có thể phân hủy trong thùng phân ủ gia đình”, và nên nhớ ngay cả những sản phẩm có thể phân hủy công nghiệp thì vẫn có thể bị chôn lấp và nhựa phân hủy sinh học không phân hủy trong môi trường nước biển. Các sinh vật biển như rùa vẫn có thể nhìn nhầm nhựa thành sứa dù chúng được dán nhãn phân hủy sinh học hay không và cuối cùng, phân hủy sinh học không đồng nghĩa với việc có thể tiêu hóa.

Đặc biệt, nếu những bao bì có thể phân hủy sinh học bị vứt bừa bãi, chúng cũng gây nguy hại không kém bao bì thông thường. Và mặc dù sản phẩm nhựa được chứng nhận có thể phân hủy sinh học vẫn tốt hơn những sản phẩm không phân hủy, nhưng chúng cũng không phải là giải pháp tối ưu. Từ chối, tái sử dụng các sản phẩm nhựa khi có thể mới là quyết định sáng suốt.

The Treadingmyownpath.com/BVR&MT (20/10/2018)