Siết chặt quy hoạch, quản lý các khu công nghiệp

Các khu công nghiệp (KCN) đóng vai trò “đầu tàu” trong phát triển kinh tế đất nước, là động lực quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và phát triển các KCN đang nảy sinh một số bất cập, hạn chế như tỷ lệ lấp đầy các KCN ở nhiều địa phương còn thấp, ô nhiễm môi trường,… gây bức xúc cho người dân địa phương. Điều đó đặt ra vấn đề, cần rà soát kỹ hơn quy hoạch cũng như các dự án KCN để có thể sớm khắc phục bất cập, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động, đầu tư tại các KCN hiện nay.

Bài 1: Những khu công nghiệp bỏ hoang

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH – ĐT), đến hết năm 2014, cả nước có 295 KCN được thành lập, nhưng chỉ 212 KCN đi vào hoạt động, 83 KCN vẫn đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng (GPMB) và xây dựng cơ bản. Tổng diện tích đất có thể cho thuê lên đến 56 nghìn ha, nhưng các KCN chỉ cho thuê vỏn vẹn 26 nghìn ha; còn tỷ lệ lấp đầy tại các KCN đã đi vào hoạt động mới đạt khoảng 65%.

Bờ xôi, ruộng mật để cỏ mọc

Năm 2007, Tập đoàn Compal (Đài Loan, Trung Quốc) được tỉnh Vĩnh Phúc chính thức trao giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) xây dựng nhà máy sản xuất máy tính xách tay, thiết bị hỗ trợ cá nhân kỹ thuật số và điện thoại di động tại KCN Bá Thiện (huyện Bình Xuyên). Đây là một dự án công nghiệp công nghệ thông tin có quy mô hoành tráng nhất trong khu vực thời bấy giờ, với mức đầu tư ban đầu dự kiến khoảng 500 triệu USD, mỗi năm cho ra đời bốn triệu sản phẩm với doanh thu hàng tỷ USD và tạo việc làm cho hơn 30 nghìn lao động tại địa phương,… Tuy nhiên, khi đến khảo sát tận nơi, chúng tôi mới hiểu không như những gì mô tả trong dự án. Trên tổng diện tích 327 ha đất của KCN Bá Thiện được tỉnh Vĩnh Phúc tự bỏ tiền GPMB, nằm trơ trọi duy nhất một nhà máy của Compal với diện tích gần 100 ha (tính cả “sân vườn”), còn lại phần lớn là đất hoang, được người dân tận dụng để thả bò hoặc đổ rác thải xây dựng.

Vừa xua bò trên chính khu đất của KCN, cô Vũ Thị Trầm, ngụ tại thôn Vinh Tiến, xã Bá Hiến (huyện Bình Xuyên) nói với vẻ chán chường: Trước kia, đây là ruộng “bờ xôi ruộng mật”, từ khi Nhà nước thu hồi đất làm KCN, đất ruộng bị san phẳng rồi bỏ hoang, nông dân chúng tôi thấy xót xa lắm! Cũng theo cô Trầm, mất nghề nông, nhà cô cũng như nhiều gia đình khác đều trông mong thời điểm KCN đi vào hoạt động để thanh niên trong thôn có việc làm, kinh tế dịch vụ trong vùng phát triển, người dân nhờ đó ổn định cuộc sống. Ầy vậy mà nhà máy xây xong chỉ hoạt động cầm chừng hoặc đóng cửa, cứ như được dựng lên chỉ để… giữ đất. “Miệng ăn, núi lở, mấy chục triệu đồng tiền đền bù cũng đã hết sạch từ lâu mà chồng tôi còn bị đau ốm, nhà tôi ngày càng khó khăn. Bây giờ còn sức, tôi còn thả được bò hay đi làm thuê để kiếm sống, chứ nay mai già yếu thì không biết sống bằng cái gì?”, cô Trầm thở dài.

Theo kết quả khảo sát, tình trạng đất các KCN được đưa vào sử dụng đạt thấp so với quy hoạch là hiện tượng không chỉ xảy ra ở Vĩnh Phúc, mà còn ở hầu hết các địa phương. Tại Đồng Nai, một trong những địa phương có nhiều KCN nhất cả nước, mặc dù tỷ lệ lấp đầy bình quân các KCN đi vào hoạt động đạt mức khá cao (gần 76%), song tại một số nơi, nhất là các huyện miền núi, tỷ lệ lấp đầy rất thấp. Cụ thể, KCN Tân Phú (huyện Tân Phú) được thành lập cách đây hơn tám năm với quy mô 54 ha, trong đó 35 ha làm công nghiệp, nhưng đến nay mới chỉ cho thuê được hơn sáu ha (khoảng 18%). Người dân trong vùng cho biết, một ha đất sản xuất nông nghiệp ở đây đem lại thu nhập gần một trăm triệu đồng mỗi năm, nay bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm, trong khi người dân không có đất để sản xuất, cuộc sống khó khăn thêm bội phần.

Tương tự, KCN Sông Mây giai đoạn 2 (huyện Trảng Bom) được thành lập từ năm 2007, quy mô 224 ha, đến nay chưa có một nhà máy nào mọc lên. Đáng nói, KCN Nhơn Trạch 6, xã Long Thọ (huyện Nhơn Trạch) với quy mô 315 ha nhưng vẫn chưa có nhà đầu tư nào vào tìm hiểu, thuê đất để sản xuất, kinh doanh. Theo thống kê, riêng tại xã Long Thọ, có hơn một nghìn hộ dân bị ảnh hưởng do thu hồi đất làm các KCN.

Câu chuyện của cô Trầm ở Vĩnh Phúc, của những người dân ở Đồng Nai cũng chính là hoàn cảnh chung của nhiều gia đình nông dân nằm trong các dự án KCN bị thu hồi đất tại nhiều địa phương trên khắp cả nước đang trông chờ các KCN đi vào hoạt động để có công ăn việc làm, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, thực tế nhiều hộ gia đình đã lâm vào cảnh “chạy ăn từng bữa”, hoặc rời bỏ quê hương lên thành phố mưu sinh, trong khi chính mảnh ruộng của mình bị bỏ hoang.

Ô nhiễm môi trường

Nhiều dự án KCN còn “ngắc ngoải” ngay từ đầu do gặp vướng mắc khâu GPMB và triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, điển hình như các dự án KCN Minh Quang, Vĩnh Khúc, Ngọc Long (Hưng Yên); các KCN Phú Mỹ 3, Long Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu) hay KCN Đức Hòa III – Liên Thành và Đông Nam Á (Long An),… Trưởng ban Quản lư các KCN tỉnh Hưng Yên Phạm Thái Sơn chia sẻ: Các KCN Minh Quang, Vĩnh Khúc được thành lập và cấp GCNĐT trước năm 2009, nhưng do các quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất,… khiến chi phí bồi thường tăng cao so với thời điểm lập dự án, chủ đầu tư phải nghiên cứu, đánh giá lại dự án khiến thời gian kéo dài. Nhưng các dự án này phần lớn vẫn còn nằm trên giấy, vẫn là đất ruộng, nên không gây thiệt hại nhiều cho nông dân. Còn tại nhiều nơi khác, tình trạng GPMB theo kiểu “xôi đỗ” đang là nỗi bức xúc không chỉ của người dân địa phương, mà còn khiến chính chủ đầu tư các dự án “đau đầu”.

Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình Phú Mỹ (chủ đầu tư KCN Phú Mỹ 3, Bà Rịa – Vũng Tàu) cho biết, hiện dự án đã chậm tiến độ hai năm so với kế hoạch, nhưng không thể đẩy nhanh hơn vì vướng GPMB. Cụ thể, trong tổng số 999 ha đất của dự án, mới chỉ đền bù và thu hồi được hơn 688 ha. Phần diện tích đã đền bù không liền thửa cũng là nguyên nhân gây khó khăn trong việc thi công san lấp mặt bằng, không thể giao thầu thi công các hạng mục kỹ thuật.

Khu công nghiệp Cẩm Điền - Lương Điền (huyện Cẩm Giàng, Hải Dương)  bị bỏ hoang. (Ảnh: Nhân Dân)

Khu công nghiệp Cẩm Điền – Lương Điền (huyện Cẩm Giàng, Hải Dương) bị bỏ hoang. (Ảnh: Nhân Dân)

Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường từ các KCN mới là tình trạng đáng báo động nhất, gây ra thiệt hại không nhỏ về kinh tế cũng như những hiểm họa khôn lường về sức khỏe cho người dân các địa phương có KCN. Theo báo cáo của Ban Quản lư các KCN tỉnh Đồng Nai, vấn đề giải quyết môi trường cho các KCN trên địa bàn tỉnh đang gặp nhiều khó khăn, nhất là KCN Biên Hòa 1 với quy mô 335 ha nằm dọc sông Đồng Nai. Hiện tại, trừ một số nhà đầu tư thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, còn rất nhiều nhà máy chưa quan tâm và chưa xử lư ô nhiễm triệt để, khiến tình trạng ô nhiễm do KCN Biên Hòa 1 gây ra hết sức nghiêm trọng, hàng loạt chỉ tiêu nước thải và khí thải xả vào môi trường tự nhiên vượt giới hạn cho phép hàng chục, hàng trăm lần. Theo thống kê, mỗi ngày, 97 DN đang hoạt động tại KCN Biên Hòa 1 xả ra hơn 9.000 m3nước thải; trong đó, chỉ có hơn 1.000 m3 nước thải được đấu nối qua KCN Biên Hòa 2 để xử lư, gần 8.000 m3 nước thải còn lại được DN tự xử lư, xả trực tiếp ra sông Đồng Nai. Nguồn nước sông Đồng Nai vì thế bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng việc cung cấp nước sạch cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

Ngoài ra, số liệu quan trắc quốc gia tại KCN Biên Hòa 1 (gần Nhà máy Vicasa) cho thấy, nồng độ ô nhiễm bụi dao động từ 0,42 đến 0,55 mg/m3, trung bình 0,496 mg/m3, vượt tiêu chuẩn cho phép; nồng độ khí độc SO2, NO2, CO cũng ở mức “báo động đỏ”. KCN Biên Hòa 1 được hình thành đã khá lâu và được xem là KCN hình thành sớm nhất cả nước, do quy hoạch không đồng bộ, hệ thống hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng, việc sửa chữa chỉ được thực hiện một cách chắp vá. Bên cạnh đó, trong KCN Biên Hòa 1 còn nhiều vấn đề như việc sắp xếp các nhà máy lộn xộn, việc sản xuất của nhà máy này ảnh hưởng sản phẩm của nhà máy khác, việc xả khí thải của các nhà máy sản xuất khiến một số nhà máy sử dụng nhiều lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng… Đơn cử, tại KCN Biên Hòa 1, nhà máy sữa nằm kế bên nhà máy sản xuất bình ắc-quy, nhà máy sản xuất đường hoạt động gần nhà máy sản xuất gạch, bê-tông và hóa chất,…

Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 70%, nhiều KCN đi vào hoạt động chưa triển khai xây dựng hệ thống trạm xử lư cục bộ hoặc có nhưng không vận hành. Ước tính, khoảng 70% trong tổng số một triệu m3 nước thải mỗi ngày phát sinh từ các KCN đang được xả thẳng ra môi trường mà không qua bất kỳ một khâu xử lư nào.

Năm 2014, cả nước có năm KCN mới được thành lập với quy mô 655 ha, mở rộng bảy KCN với quy mô 1.007 ha, thu hồi giấy GCNĐT của hai KCN với quy mô 359 ha và chuyển đổi một KCN với quy mô 92 ha sang mô hình cụm công nghiệp. Tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN tăng thêm trong năm 2014 đạt 6.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện tăng thêm 4.300 tỷ đồng. Lũy kế đến cuối năm 2014, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 3,525 tỷ USD và 184.370 tỷ đồng; trong đó, vốn đầu tư đã thực hiện các dự án đạt 2,022 tỷ USD và 79.217 tỷ đồng, tương ứng 57% và 43% tổng vốn đầu tư đã đăng ký.(Nguồn: Bộ KH – ĐT)

Năm 2014, cả nước khởi công xây dựng mới 14 nhà máy xử lý nước thải tập trung, hoàn thành và đưa vào hoạt động 32 nhà máy với tổng công suất tăng thêm 183 nghìn m3/ngày đêm so với năm 2013. Như vậy, đến hết năm 2014, đã có 177 KCN có nhà máy xử lý nước thải tập trung đi vào hoạt động, tổng công suất 728 nghìn m3/ngày đêm, 34 nhà máy đang trong quá trình xây dựng, công suất 116 nghìn m3/ngày. Trong khi đó, theo mục tiêu QH đề ra, đến hết năm 2015, 100% số KCN đang hoạt động sẽ có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tiêu chuẩn về môi trường.

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường)

Theo Báo Nhân Dân

Ngắm thành phố xanh dùng năng lượng mặt trời ở Dubai

Ở Dubai sẽ có một thành phố thân thiện với môi trường, các công trình sử dụng năng lượng mặt trời.

01062015_tpxanhdungNLmattroi

Tập đoàn Intercontinental Hotels Group vừa công bố dự án thành phố bền vững sử dụng năng lượng thân thiện với môi trường ở Dubai. Trong khu vực này sẽ có khách sạn Indigo sử dụng năng lượng mặt trời cho mọi hoạt động như một phần của tham vọng phát triển thành phố bền vững.

Dự kiến khách sạn này sẽ mở cửa đầu năm 2017 với 170 phòng. 100% nhu cầu năng lượng của khách sạn, khách hàng và các hoạt động sử dụng năng lượng mặt trời. Thậm chí, nước thải của khách sạn sẽ được tái chế. Tất cả các chất thải sẽ được phân loại tại nguồn và đưa đi tái chế.

Thay vì trồng cỏ gây tốn nước, thực vật bản địa có khả năng chống chịu nắng hạn sa mạc sẽ được trồng để tạo thảm xanh cho khu vực này.

Dịch vụ xe buýt đưa đón khách bằng năng lượng mặt trời có sẵn trong khách sạn, giúp kết nối du khách với phố phường Dubai.

01062015_tpxanhdungNLmattroi2

01062015_tpxanhdungNLmattroi3

01062015_tpxanhdungNLmattroi4

01062015_tpxanhdungNLmattroi5

Theo Nghi Anh/ VTC News

Băng trên các đỉnh núi ở Colombia sắp biến mất vì Trái Đất nóng lên

Các nhà khoa học Colombia ngày 26/5 đã lên tiếng cảnh báo hiện tượng Trái Đất nóng lên sẽ khiến những đỉnh núi cao nhất tại quốc gia Nam Mỹ này mất toàn bộ lớp băng phủ trong vài thập kỷ tới.

Dãy núi Sierra Nevada de Santa Marta đã mất tới 90% diện tích băng phủ của mình. (Ảnh: eltiempo.com)

Dãy núi Sierra Nevada de Santa Marta đã mất tới 90% diện tích băng phủ của mình. (Ảnh: eltiempo.com)

Theo phóng viên TTXVN tại Mỹ Latinh, dãy núi Sierra Nevada de Santa Marta hay “Tuyết Sơn Nữ thánh Marta” đã mất tới 90% diện tích băng phủ của mình. Nếu chiều hướng trên tiếp tục thì tới năm 2030, khu dự trữ sinh quyển thế giới này sẽ mất hoàn toàn lớp băng tuyết phủ đỉnh núi.

Nằm bên bờ biển Caribe với độ cao 5.000 m, Sierra Nevada de Santa Marta là rặng núi ven biển cao nhất thế giới, từng được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên của nhân loại và vùng tuyết phủ của dãy núi này luôn được coi là một vẻ đẹp khác lạ tại Colombia.

Ngoài rặng núi trên, các chuyên gia thuộc Viện Khí tượng thủy văn quốc gia Colombia cũng lo ngại về hiện tượng tiêu cực tương tự tại núi Nevado de Ruiz.

Hiện tại, vòng băng phủ đỉnh của ngọn núi lửa này đã mất 80% diện tích, từ 47km2xuống còn 9,7km2 và có thể sẽ biến mất hoàn toàn chỉ trong vòng 15 năm tới.

Theo thống kê chính thức, hồi năm 1850, Colombia sở hữu 374km2 diện tích băng phủ tại các đỉnh núi cao, tuy nhiên chỉ số này hiện tại chỉ còn ở mức 45km2 và vẫn đang tiếp tục giảm.

Ngoài Santa Marta và Nevado de Ruiz, 4 dãy núi khác tại Colombia đang đối diện nguy cơ tan băng đỉnh núi là Cocuy, Santa Isabel, Tolima và Huila.

Theo TTXVN

Loại bỏ 54 công trình thủy điện vừa và nhỏ

Các công trình này tại Lào Cai, đều có công suất nhỏ, vị trí nằm ở vùng núi cao, trong vùng lõi của vườn Quốc gia Hoàng Liên, rừng già…

(Ảnh minh họa: tinmoitruong.vn)

(Ảnh minh họa: tinmoitruong.vn)

54 công trình thủy điện với tổng công suất lắp máy 120,34 MW đã được tỉnh Lào Cai loại bỏ trong quy hoạch phát triển thủy điện vừa và nhỏ đến năm 2020.

Các công trình này đều có công suất nhỏ, vị trí nằm ở vùng núi cao, trong vùng lõi của vườn Quốc gia Hoàng Liên, rừng già, ảnh hưởng đến nguồn nước, xa điểm đấu nối, xa đường giao thông, suất đầu tư cao, hiệu quả kinh tế thấp. Sau khi loại bỏ các công trình trên, hiện toàn tỉnh còn 70 công trình thủy điện.

Ông Đỗ Trường Giang, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Lào Cai cho biết: “Ngay từ đầu năm nay, chúng tôi đã có cuộc gặp gỡ tất cả các chủ đầu tư các công trình thủy điện để nắm bắt tình hình. Chúng tôi cũng căn cứ những kiến nghị của các doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn cho quá trình vận hành. Yêu cầu họ thực hiện nghiêm bảo vệ môi trường, khôi phục, hoàn nguyên môi trường trong quá trình xây dựng nhà máy”.

Theo Thanh Thủy/VOV.VN

Gian nan hướng đích “khu công nghiệp sạch”

Theo Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050, huyện Mê Linh được quy hoạch là đô thị xanh, đô thị hoa kết hợp với dịch vụ thân thiện. Các khu, cụm công nghiệp được tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, cải tạo hoàn chỉnh theo hướng công nghiệp sạch…

Để làm được điều này, trước hết huyện cần nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc từ các khu công nghiệp, nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường về khí thải, nước thải.

Sản xuất yên xe máy tại Công ty TNHH Phong Nam (KCN Quang Minh). (Ảnh: Nhân Dân)

Sản xuất yên xe máy tại Công ty TNHH Phong Nam (KCN Quang Minh). (Ảnh: Nhân Dân)

Gỡ vướng từ các khu công nghiệp

Huyện Mê Linh hiện có ba khu công nghiệp (KCN) gồm: KCN Quang Minh I, II và KCN Kim Hoa. Trong đó, hai KCN Quang Minh I và II đã đi vào hoạt động và thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư. KCN Quang Minh I có diện tích 408 ha, đến nay tỷ lệ lấp đầy đã đạt 80%, thu hút 154 dự án, trong đó có 47 dự án đầu tư nước ngoài, tổng vốn đầu tư 5.060 tỷ đồng và gần 300 triệu USD. KCN Quang Minh II với diện tích 266 ha cũng đã thu hút 48 dự án với tổng vốn đầu tư 2.215 tỷ đồng và gần 35 triệu USD. Riêng KCN Kim Hoa có diện tích 16 ha dù đã được phê duyệt, nhưng đến nay chưa tiến hành giải phóng mặt bằng.

Tuy nhiên, việc khai thác, quản lý các KCN trên địa bàn đang gặp không ít khó khăn. Ở KCN Quang Minh I, trong tổng số 154 dự án, thì có 105 dự án đang đền bù và bốn dự án đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, hiện còn bảy dự án chưa triển khai giải phóng mặt bằng (GPMB). Một số tuyến đường, hạ tầng cây xanh trong KCN chưa hoàn thành, nguyên nhân là do người dân chưa đồng tình với mức giá đền bù GPMB (mức giá này được tính theo giá của tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ hơn 48 nghìn đồng/m2, thấp hơn nhiều so với giá đền bù của TP Hà Nội). Trong 47 dự án phát triển đô thị và nhà ở với tổng diện tích 1.650 ha, công tác GPMB cũng không khả quan hơn khi có hơn 30 dự án vẫn đang trong giai đoạn triển khai hoặc bồi thường GPMB. Tiến độ GPMB trên địa bàn huyện chậm còn có nguyên nhân do việc “trả nợ” đất dịch vụ cho các hộ dân đã bị thu hồi đất phục vụ các dự án hiện gặp nhiều khó khăn, còn thiếu khoảng 20 ha, chủ yếu tập trung ở địa bàn sáu xã và thị trấn. Một số doanh nghiệp thuê đất trong KCN Quang Minh không nộp tiền thuê đất. Tính đến 30-4-2015, đã có 31 doanh nghiệp nợ 780 triệu đồng tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Điều khiến nhà đầu tư và người dân lo lắng hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là về khí thải, nước thải tại các KCN đang có nguy cơ gia tăng. Tại KCN Quang Minh I, dù đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải, chất thải, nhưng do chưa hoàn thiện hệ thống xử lý, cho nên đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, nước sinh hoạt của khu dân cư lân cận. Hơn nữa, việc Công ty TNHH Đầu tư xây dựng và Phát triển hạ tầng Nam Đức ( đơn vị quản lý KCN Quang Minh I) không giữ lời hứa bảo đảm hạ tầng cơ sở, mà buộc các chủ đầu tư phải trả phí dịch vụ cao khi sử dụng hệ thống xử lý nước thải, chất thải khiến nhiều doanh nghiệp xả nước thải trực tiếp đã làm môi trường thêm ô nhiễm.

Đầu tư cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường

Nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, thu hút nhiều hơn nữa các doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, huyện Mê Linh xác định trước hết cần giải quyết sớm những vướng mắc ngay từ các KCN. Trong điều kiện cả huyện như một đại công trường, ngổn ngang các công trình xây dựng hiện nay, huyện kiến nghị thành phố hỗ trợ giúp huyện hoàn chỉnh hạ tầng KCN Quang Minh I, xây dựng đường gom KCN với đường Võ Văn Kiệt trước Trung tâm Thương mại Mê Linh Plaza. Đồng thời, có phương án đầu tư, đấu nối đường KCN Quang Minh I với KCN Quang Minh II đoạn cuối Tiền Phong – Quang Minh; xây dựng nhà ở cho công nhân theo hướng đồng bộ. Hướng tới mục tiêu phát triển công nghiệp sạch và để bảo đảm công tác vệ sinh môi trường, huyện sẽ xây dựng hồ chứa nước thải trước khi đưa ra môi trường, hồ điều hòa để dự trữ nước cho KCN, phòng cháy chữa cháy…

Mới đây, tại buổi làm việc với huyện về đầu tư các dự án đô thị mới và phát triển công nghiệp – thương mại trên địa bàn, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Ngọc Tuấn yêu cầu huyện đẩy mạnh việc hoàn chỉnh quy hoạch phân khu, cụm công nghiệp, quy hoạch về sử dụng đất, tập trung tháo gỡ khó khăn về GPMB, sớm hoàn thiện các KCN theo đúng quy hoạch, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp xanh, sạch. Nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm vệ sinh môi trường, Phó Chủ tịch thành phố yêu cầu UBND huyện và Ban Quản lý các KCN – khu chế xuất Hà Nội đôn đốc để các doanh nghiệp sản xuất tại KCN đấu nối ngay với hệ thống xử lý nước thải, chấm dứt tình trạng xả thải trực tiếp gây ô nhiễm môi trường.

Đã gần sáu năm huyện Mê Linh sáp nhập về Thủ đô. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, với sự cố gắng cao độ của chính quyền và người dân, kinh tế-xã hội trên địa bàn huyện tăng trưởng khá. Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thủ đô, Mê Linh có rất nhiều thuận lợi để tiếp nhận các cơ hội đầu tư, phát triển. Huyện cần nhanh chóng đầu tư, hoàn thành cơ sở hạ tầng gắn với cải thiện môi trường để thu hút nhiều hơn nữa các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước.

Theo Nhân Dân

Nâng cao hiệu quả khu công nghiệp, khu kinh tế: Những khó khăn và thách thức mới

Phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) ở Việt Nam trong 24 năm qua đã cho chúng ta nhiều bài học về sự thành công, thu được nhiều thành tựu nhưng cũng còn không ít bất cập và khó khăn. Thực tế phát triển các khu này đang đặt ra nhiều thách thức mới…

Báo động về ô nhiễm môi trường

Khu công nghiệp Tằng Loỏng thuộc huyện Bảo Thắng đã được tỉnh Lào Cai coi là “biểu tượng” của sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa địa phương. KCN này đã giải quyết được khá nhiều lao động và có đóng góp không nhỏ vào ngân sách của tỉnh. Thế nhưng, do quy hoạch chắp vá theo kiểu “vừa chạy vừa xếp hàng”, nên kể từ khi hình thành cho đến nay, Tằng Loỏng vẫn đang là điểm “nóng” về gây ô nhiễm môi trường. Các nhà máy trong KCN này trước khi xây dựng đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Nhưng chất lượng lập và thẩm định các báo cáo chưa phù hợp với thực tế. Đặc biệt, công nghệ sản xuất hóa chất, luyện kim tại Khu công nghiệp Tằng Loỏng hầu hết đều dùng công nghệ tương đối lạc hậu, nên ô nhiễm môi trường là khó tránh khỏi.

Khu công nghiệp có nhà ở xã hội cho công nhân thuê như Đặng Xá (Gia Lâm, Hà Nội) còn quá ít. (Ảnh: Tuấn Anh)

Khu công nghiệp có nhà ở xã hội cho công nhân thuê như Đặng Xá (Gia Lâm, Hà Nội) còn quá ít. (Ảnh: Tuấn Anh)

Tình trạng KCN, KKT gây ô nhiễm môi trường như Tằng Loỏng không phải là cá biệt. Theo Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ô nhiễm môi trường ở các KCN, KKT ở nước ta hiện nay, chủ yếu là do sự ô nhiễm từ môi trường nước, không khí, từ chất thải rắn là chủ yếu. Trong đó, ô nhiễm môi trường nước do nước thải từ KCN trong những năm gần đây là rất lớn, tốc độ gia tăng này cao hơn rất nhiều so với tổng nước thải từ các lĩnh vực khác. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm 66%, nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải cục bộ hoặc có nhưng không vận hành, hay vận hành không hiệu quả hoặc xuống cấp. Trong khi đó, theo ước tính có khoảng 70% trong tổng số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các KCN được xả thẳng ra nguồn tiếp nhận mà không qua xử lý.

Đất trong KCN, KKT để hoang hóa còn lớn

Nếu ai có dịp đi qua Quốc lộ 5 (Hà Nội-Hải Phòng) sẽ thấy bên đường có khá nhiều KCN, nhưng diện tích đất để cỏ hoang mọc trong các KCN này khá lớn.

Trong báo cáo của  Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra tại cuộc họp Ban chỉ đạo về phát triển KCN, KKT lần thứ 5 diễn ra mới đây do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, một danh sách với hàng loạt KCN kém hiệu quả, trong diện “báo động” đã được nhắc tới. Đặc biệt, có một số KCN hiện vẫn chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất lúa sang KCN.

Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau thời gian phát triển nóng, hiện nay tỷ lệ lấp đầy các KCN bình quân của cả nước chỉ vào khoảng 65%. Những vùng có hạ tầng tốt như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng thì thu hút đầu tư rất tốt, nhưng những vùng mà cơ sở hạ tầng còn yếu kém thì việc thu hút các dự án vào các KCN gặp không ít khó khăn. Trước năm 2009, các KCN ở các địa bàn được coi là khó khăn đều được hưởng các ưu đãi tương đương các địa bàn khó khăn; thuế suất sẽ giảm hơn thuế suất trung bình cho doanh nghiệp. Nhưng sau năm 2009, khi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành thì không còn ưu đãi này nữa. Điều này làm giảm tính hấp dẫn thu hút đầu tư vào KCN. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng e ngại về chi phí tiền thuê đất, đầu tư xây dựng hạ tầng và chi phí các dịch vụ liên quan.

Thiếu nhà ở cho công nhân  

Số liệu thống kê cho thấy, trong hơn 2,4 triệu lao động làm việc tại các KCN, KKT thì có đến hơn 70% là lao động ngoại tỉnh đến từ các vùng nông thôn dẫn đến sức ép về nhà ở, quỹ đất để xây dựng nhà ở cho công nhân trong các KCN, KKT rất cao.

Theo khảo sát của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện mới chỉ có khoảng 20% công nhân lao động trong các KCN, KKT có chỗ ở ổn định, số còn lại vẫn đang phải thuê chỗ ở tạm. Đa số công nhân ngoại tỉnh làm việc tại các KCN, KKT trên cả nước đều phải thuê nhà trọ của tư nhân. Các phòng trọ thuê của tư nhân hầu hết đều rất chật hẹp (diện tích sử dụng bình quân từ 2-3m2/người), điều kiện vệ sinh, môi trường không bảo đảm.

Hiện TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai chỉ mới giải quyết được khoảng 10% số công nhân có nhu cầu về nhà ở. Nhà trọ xung quanh các KCN của Đồng Nai, Bình Dương có những phòng chỉ rộng 12m2. Điều kiện vệ sinh ở các khu nhà trọ thiếu thốn, đơn điệu, cũ và xuống cấp. Tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, các cơ quan chức năng của hai thành phố lớn nhất nước cũng đã có nhiều cố gắng để xây dựng nhà ở xã hội bán hoặc cho công nhân thuê, nhưng số lượng vẫn còn quá ít so với nhu cầu của công nhân trong các KCN, KKT.

Theo quy hoạch phát triển các KCN, KKT ở Việt Nam, đến năm 2020 tổng số công nhân, lao động tại các KCN, KKT đạt khoảng 7,2 triệu. Số công nhân, lao động tại các KCN, KKT cả nước có nhu cầu về chỗ ở đến năm 2020 là khoảng 4,2 triệu người, tương đương khoảng 33,6 triệu mét vuông nhà ở. Để đạt được mục tiêu này quả là thách thức rất lớn cho các địa phương có KCN, KKT.

Để góp phần giải quyết nhà ở cho công nhân tại các KCN, KKT, tiến sĩ Nguyễn Chơn Trung, nguyên Trưởng ban quản lý Khu công nghiệp-khu chế xuất TP Hồ Chí Minh (Hepza) cho rằng, quy hoạch KKT, KCN phải đồng bộ và gắn với việc xây dựng khu đô thị mới.

Theo Báo Điện tử Quân đội Nhân dân